Học thuyết giá trị thặng dư, một trong
hai phát kiến vĩ đại của C. Mác- “chiếu một ánh sáng rực rỡ vào lĩnh vực kinh
tế”2, đó
là kết quả của một công trình tiến hành trong suốt cuộc đời nhằm nghiên cứu quy
luật vận động của xã hội tư bản. Học thuyết này đã đưa ra những kết luật hoàn
chỉnh nhất về xã hội tư bản:
“Một
là, vạch ra quy luật vận động kinh tế của xã hội tư bản- quy luật giá trị
thặng dư, và từ đó vạch ra bản chất bóc lột của xã hội tư bản.
Hai
là, làm rõ địa vị lịch sử của chủ nghĩa tư bản trong lịch sử nhân loại; làm
rõ vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là người lãnh đạo cuộc đấu
tranh để lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựng chế độ xã hội mới, xã hội
xã hội chủ nghĩa”2
Sự phát triển kinh tế và chính trị của
thế giới từ nửa sau thể kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, đã làm xuất hiện nhiều luồng ý
kiến khác nhau đối với học thuyết kinh tế của Mác. Đặc biệt từ khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, hệ thống chủ nghĩa xã hội lâm
vào thoái trào, các thế lực thù địch đã hí hửng và ráo riết tìm mọi cách để tấn
công vào chủ nghĩa Mác, đặc biệt là lý luận giá trị thặng dư. Bởi vì, chúng
nhận thức rất rõ rằng, lý luận giá trị thặng dư là hòn đá tảng của toàn bộ học
thuyết kính tế của Mác, nếu bác bỏ được lý luận giá trị thặng dư sẽ đánh đổ
được toàn bộ học thuyết kinh tế của Mác, từ đó tước bỏ được vũ khí lý luận cách
mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thực hiện mưu đồ dập tắt
phong trào cách mạng của những người cộng sản chân chính.
Những quan điểm phê phán, hoài nghi hoặc phủ định học thuyết kinh tế của
Mác chủ yếu tập trung vào phần lý luận giá trị thặng dư, từ phương pháp nghiên
cứu- phương pháp trừu tượng hóa khoa học đến các luận điểm cụ thể, cơ bản của
học thuyết ấy như: máy móc có tạo ra giá trị hay không; lao động trí tuệ, lao
động quản lý có vai trò như thế nào trong quá trình sản xuất và quá trình tạo
ra giá trị; chủ nghĩa tư bản ngày nay có còn dựa trên cơ sở bóc lột lao động
làm thuê hay không; về sứ mệnh cải tạo thế giới của giai cấp công nhân…
Song suy cho cùng, các luận điệu đó dù
có lập luận, xuyên tạc như thế nào đi nữa, họ cũng không thể phủ nhận một thực
tế có tính chất bản lền rằng: quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn dựa trên
chế độ chiếm hữa tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất , và do đó bản chất của xã
hội tư bản vẫn không thay đổi, vẫn là: toàn bộ xã hội tư bản bóc lột toàn bộ
giai cấp công nhân dưới phạm trù giá trị thặng dư (mặc dù trong điều kiện ngày
nay, nó được che đạy một cách tinh vi như thế nào đi nữa), và quy luật giá trị
thặng dư vẫn là quy luật tuyết đối của chủ nghĩa tư bản
Hiện nay, Việt Nam
chúng ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Trên con đường
xây dựng chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những thành tựu đạt được, thì vẫn còn không
ít những khó khăn, trở ngại, do đó trở thành trọng điểm chống phá của các thế
lực thù địch trong và ngoài nước. Những người có tư tưởng đối lập đã lập luận rằng: xây dựng CNXH mà
lại thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,
thực hiện chính sách mở cửa, khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển tức là ở
Việt Nam thừa nhận lý luận giá trị thặng dư và toàn bộ chủ nghĩa Mác - Lênin đã
bị phá sản. Những người có “thiện chí” hơn thì tỏ ra “khách quan” và cho rằng:
lý luận giá trị thặng dư của Mác ra đời từ thế kỷ XIX, vào lúc CNTB còn đang là
CNTB “cổ điển”, còn nhiều tính chất hoang dã, thiếu tính nhân văn, là sản phẩm
của văn minh cơ khí; ngày nay bước sang thời kỳ mới - thời kỳ hậu công nghiệp
thì lý luận giá trị thặng dư của Mác đã hết sứ mạng lịch sử và không còn phù
hợp nữa
Sự thật có phải vậy không?
Khi nghiên cứu, vận dụng học thuyết giá trị thăng dự vào sự phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần phải quán
triệt tư tưởng của Ăng nghen, đó là: phải đặt trong mối quan hệ giữa cái “bất
biến” và cái “khả biến” trong
việc nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư. Cái bất biến chính là tính khoa học
bền vững của lý luận giá trị thặng dư, nhưng tính khoa học đó cần phải được vận
dụng sáng tạo và phải đặt trong những điều kiện lịch sử nhất định của thực tiễn
sinh động (tức là cái khả biến). Hay như Lênin đã căn dặn rằng: Chúng ta không
hề coi lý luận của Mác như là cái gì đó đã xong xuôi và bất khả xâm phạm; trái
lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những
người xã hội chủ nghĩa cần phát triển hơn nữa mọi mặt, nếu họ không muốn trở
thành lạc hậu đối với cuộc sống.
Như vậy chính những
người sáng lập và đặt nền móng cho sự tồn tại của chủ nghĩa Mác- Lênin cũng đã
chỉ dẫn và nhắc nhở chúng ta cần phải nghiên cứu, xem xét, bổ sung, hoàn chỉnh
chủ nghĩa Mác nói chung, lý luận giá trị thặng dư nói riêng cho phù hợp với
những điều kiện, những mối quan hệ hiện thực cụ thể, chứ không phải vận dụng nó
một cách máy móc, khô cứng hay để phê phán, phủ nhận nó…
Việt Nam
chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng,
phải khẳng định rằng, điều đó không có nghĩa là lý luận giá trị thặng dư không
còn giá trị, mà sự thật đó là sự vận dụng sáng tạo lý luận giá trị thặng dư nói
riêng, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung vào sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội
ở nước ta.
Thật vậy, Việt Nam
hiện nay đang ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nên tất yếu còn tồn tại
nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế khác nhau (đại hội XI của Đảng
đã chỉ rõ, ở nước ta còn tồn tại 3 hình thức sỏ hữu và 4 thành phần kinh tế). Mặt
khác, kinh tế tư nhân được Đảng và Nhà nước ta khuyến khích phát triển: “Kinh
tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế”3, “phát triển mạnh các loại
hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các nghành, các lĩnh vực… Tạo điều kiện hình
thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh
tế nhà nước”4.
Tuy nhiên cần khẳng định phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam đặt dưới sự quản
lý chặt chẽ của Nhà Nước xã hội chủ nghĩa thông qua luật pháp và hàng loạt công
cụ, chính sách, nó không hoàn toàn là kinh tế tư nhân theo đúng nghĩa của nó
nữa. Nhiều học giả cho rằng: Về mặt chính
trị, đại diện cho kinh tế tư bản tư nhân là giai cấp tư sản. Kinh tế tư bản
tư nhân và giai cấp tư sản là một thực thể gắn liền với chủ nghĩa tư bản và chỉ
tồn tại trong điều kiện có sự tồn tại của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Quá trình đổi mới ở nước ta, sự xuất hiện và phát triển các loại hình doanh
nghiệp của tư nhân không đồng nghĩa với sự xuất hiện trở lại của quan hệ sản
xuất TBCN và giai cấp tư sản; Về kinh tế,
các loại hình doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo Luật Doanh nghiệp ở nước ta,
kể cả doanh nghiệp quy mô lớn, là một bộ phận quan trọng của quan hệ sản xuất
định hướng xã hội chủ nghĩa, được hình thành và phát triển trong điều kiện có
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chịu sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa,
phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, được Nhà nước khuyến khích và bảo vệ, không hoàn
toàn do quy luật giá trị thặng dư chi phối. Do đó, ở Việt Nam hiện nay không có kinh tế tư
bản tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ
yếu và bóc lột giá trị thặng dư, do quy luật giá trị thặng dư chi phối
Như vậy, xây dựng
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân
ở Việt Nam hiện nay không hề phủ nhận lý luận giá trị thặng dư, mà ngược lai,
lý luận giá trị thặng dư của Mác vẫn giữ nguyên giá trị.
Đồng thời, nghiên
cứu vận dụng Học thuyết giá trị thặng dư vào phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần chú ý một số vấn đề sau đây:
Một là, trong thời kỳ quá độ
nền kinh tế ở nước ta, trong một chừng mực nào đó, quan hệ bóc lột chưa thể bị
xóa bỏ ngay, sạch trơn theo cách tiếp cận giáo điều và xơ cứng cũ. Bởi lẽ trong
thời kỳ quá độ quan hệ sản xuất cũ chưa bị thủ tiêu hoàn toàn và quan hệ sản
xuất mới chưa thể chiến thắng toàn diện. Do vậy, càng phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ, chừng nào quan hệ bóc lột còn có tác
dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thì
chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó
Hai là, phải biết khai thác những di sản lý luận của học thuyết giá trị
thặng dư để đẩy mạnh phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước
ta. Học thuyết giá trị thặng dư của Mác được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu
lịch sử nền sản xuất hàng hóa, đặc biệt là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao
dưới chủ nghĩa tư bản. Cho nên chính C. Mác chứ không phải ai khác, là một
trong những nhà nghiên cứu sâu sắc về kinh tế thị trường. Mặc dù nền kinh tế
hàng hóa ở nước ta có tính đặc thù của nó (sản xuất nhỏ, đang từng bước vươn lên sản xuất lớn…), song đã là kinh
tế hàng hóa thì ở đâu cũng đều có tính phổ biến, cũng phải nói đến giá trị và
giá trị thặng dư. Cho nên việc nghiên cứu những công cụ, chính sách làm tăng
gía trị và giá trị thặng dư cho xã hội tư bản có ý nghĩa cả lý luận và thực
tiễn to lớn đối với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta. Đặc biệt là nghiên cứu 2 phương pháp bóc lột giá trị thặng dư dưới
chủ nghĩa tư bản mà C. Mác đã chỉ ra để từng bước áp dụng, đổi mới khoa học
công nghệ, đào tạo và đào tạo lại tay nghệ người lao động.. .từng bước nâng cao
năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, để hàng hóa nước ta đủ sức cạnh
tranh trên thị trường cả trong và ngoài nước vươn lên phát triển nền kinh tế
hàng hóa lớn.
Ba là, trong đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước hiện nay, để thực hiện mục tiêu: dân giàu nước
mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Chúng ta cần khuyến khích các thành
phần kinh tế phát triển, theo phương châm: ai làm giàu hợp pháp thì được xã hội
thừa nhận và tôn vinh, ai làm giàu bất hợp pháp thì bị xử phạt thông qua các
công cụ, chế tài và pháp luật của Nhà nước. Trong nhận thức, quan điểm chung
nên coi đó cũng chính là mức độ bóc lột được xã hội chấp nhận, tức là làm giàu
hợp pháp. Trong quản lý xã hội thì phải kiểm soát chặt chẽ thu nhập cá nhân,
thu nhập doanh nghiệp để, một mặt
chống thất thu thuế, mặt khác bảo đảm
sự “công bằng” thông qua điều tiết thu nhập xã hội thông qua các
"kênh" phân phối lại , nhất là sử dụng linh hoạt và có hiệu quả các
quỹ phúc lợi xã hội của cả chính phủ và các tổ chức, các nhân phi chính phủ
trong và ngoài nước.
Bốn là, khai thác giá trị
lý luận của C. Mác nói về quá trình tổ chức sản xuất và tái sản xuất tư bản chủ
nghĩa với tính cách là một nền sản xuất lớn gắn với quá trình xã hội hóa ngày
càng cao nhằm tạo ra khối lượng gái trị thặng dư ngày càng lớn. Trên cơ sở
những gì được coi là tất yếu của quá trình lịch sử tự nhiên, đặc biệt là về mặt
tổ chức- kinh tế, vận dụng vào phát triển nền kinh tế nước ta thời ký quá độ
lên chủ nghĩa xã hội nhằm thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hóa sản xuất theo
hướng sản xuất ra ngày càng nhiều sản
phẩm thặng dư, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
Nguyễn Văn Kỷ - Lê Sĩ Cương
[1] Ph.
Ăngghen, Chống DuyRinh, Nxb Sự thật, H1984, tr44
[2] Một số
vấn đề về chủ nghĩa Mác- Leenin trong thời đại hiện nay, Nxb CTQG, H1996, tr50.
[3] Đảng
cộng sản Việt Nam ,
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H2011,,tr 74.
[4] Đảng
cộng sản Việt Nam ,
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H2011,,tr 209.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét