Phát
huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là một trong những nội dung cơ bản để
giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta. Lợi
dụng những khó khăn của kinh tế nhà nước hiện nay, các thế lực thù địch luôn
tìm mọi cách phủ nhận vai trò của thành phần kinh tế này.
Thực hiện
đường lối đổi mới, Đảng ta chủ trương phát triển nhiều thành phần kinh tế trong
nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN, trong đó kinh tế nhà nước
(KTNN), nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giữ vai trò chủ đạo. Quá trình
phát triển đó cũng đồng thời là quá trình cải cách KTNN và DNNN, nên số lượng
các DNNN đã giảm đáng kể1. Các DNNN hoạt động chủ yếu trong các
ngành đảm bảo cân đối lớn của nền kinh tế hoặc phục vụ phát triển kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội, đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, các khu đô thị…
Nhìn nhận một cách khách quan, không bị chi phối bởi những “thiên kiến” cá
nhân, cùng với những thành tựu chung của nền kinh tế, KTNN và DNNN đã có
những đóng góp nhất định cho nền kinh tế; trở thành lực lượng
nòng cốt thực hiện vai trò quan trọng trong ổn định, tăng trưởng và phát triển
kinh tế - xã hội2, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo cho
nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định an ninh lương thực quốc gia.
Đồng thời, bảo toàn và phát triển các nguồn lực vật chất trong nền kinh tế; là
lực lượng chủ yếu hình thành các trung tâm kinh tế, đô thị mới, đầu tư vào những
lĩnh vực, các công trình trọng điểm quốc gia cần vốn lớn, có thời gian thu hồi
vốn chậm. KTNN và DNNN là đội quân chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế, thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đóng vai trò tích cực trong việc hạn
chế những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu (năm
2008 – 2010) đến nền kinh tế nước ta.
Khẳng
định vai trò và những kết quả quan trọng đã đạt được của KTNN và DNNN, chúng ta
cũng không phủ nhận những hạn chế, yếu kém của nó. Đó là sự yếu kém của các tập
đoàn kinh tế (TĐKT) và các tổng công ty nhà nước (TCTNN) thuộc sở hữu nhà nước.
Biểu hiện cụ thể là: hiệu quả sản xuất, kinh doanh, năng suất còn thấp; sức
cạnh tranh của doanh nghiệp còn yếu, thua lỗ còn lớn, hiện đang là “vấn đề
nóng”; cổ phần hóa (CPH) DNNN diễn ra chậm, có nhiều lỗ hổng, làm tiền của, tài
sản của Nhà nước bị thất thoát; tình trạng đặc quyền, đặc lợi, độc quyền doanh
nghiệp đang hiện hữu, làm méo mó quan hệ thị trường, gây thiệt hại cho người
tiêu dùng, hạn chế sự cạnh tranh và phát triển của nền kinh tế… Những yếu kém,
hạn chế của KTNN và DNNN xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ
quan, trong đó chủ quan là chính, tạo ra ảnh hưởng không tốt đến sự đánh giá và
nhìn nhận của xã hội về vai trò chủ đạo của KTNN. Cũng từ đó, các thế lực thù
địch đòi xóa bỏ vai trò chủ đạo của KTNN, đòi tư nhân hóa hết các DNNN. Gần
đây, đã xuất hiện những ý kiến “trái chiều”, cho rằng chúng ta nên bỏ cụm từ
“KTNN giữ vai trò chủ đạo” trong các văn bản, nghị quyết; hoặc “xem lại vai trò
chủ đạo của KTNN”, với nhiều lý lẽ khác nhau.
Từ thực
tế đã nêu, chúng ta cần có cách nhìn nhận một cách khách quan, đầy đủ hơn về
KTNN, cả ở trong nước và ngoài nước. Ở các nước tư bản phát triển cũng có KTNN
và DNNN được xây dựng trên sở hữu nhà nước tư bản độc quyền. Dĩ nhiên, họ không
xác định KTNN giữ vai trò chủ đạo, bởi lẽ, kinh tế TBCN dựa trên chế độ sở hữu
tư nhân TBCN và đương nhiên kinh tế tư nhân, doanh nghiệp tư nhân là chủ yếu,
là nền tảng. Trong nền kinh tế TBCN, cũng có những doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh thành đạt và cũng không ít doanh nghiệp thua lỗ, phá sản… Ở Mỹ, tính đến
tháng 9-2008, có đến 30.000 doanh nghiệp phá sản, đưa tỷ lệ thất nghiệp lên tới
6,7% - mức cao nhất trong vòng 15 năm qua.
Ở nước
ta, không phải tất cả các DNNN đều hoạt động kém hiệu quả. Bên cạnh những TĐKT
thua lỗ, như: Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy, Tập đoàn Điện lực, Tổng công ty
Hàng hải Việt Nam; hoặc lãi không nhiều do đặc thù sản xuất, kinh doanh, như:
Tổng công ty Đường sắt, Tổng công ty Hàng không…, vẫn có khá nhiều TĐKT, TCTNN
hoạt động thực sự có hiệu quả, như: Tập đoàn Viễn thông Quân đội, Tập đoàn Bưu
chính viễn thông, Tập đoàn Công nghiệp hóa chất… Ngược lại, cũng không phải tất
cả các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều hoạt
động có hiệu quả. Trong năm 2012, chúng ta đã chứng kiến nhiều “đại gia” của
kinh tế tư nhân “ngã ngựa”, thua lỗ mất trắng doanh nghiệp, phải đi làm thuê
hoặc rơi vào vòng lao lý, tù tội, mà nguyên nhân là: lòng tham, sự nóng vội, kỳ
vọng vào sự phát triển đột phá của doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp yếu kém,
lợi dụng khe hở của pháp luật để làm giàu bất chính… Sự phát triển lệch lạc của
khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài làm cho nó phát triển
không bền vững, không phù hợp với tăng trưởng xanh và phát triển hài hòa với
các lợi ích xã hội.
Như vậy,
lẽ đương nhiên, chúng ta không thể phủ nhận vai trò chủ đạo của thành phần KTNN
trong nền KTTT định hướng XHCN. Để làm được điều đó, một mặt, Nhà nước cần có
cơ chế, chính sách và các chủ trương, giải pháp sát thực, tính khả thi cao; mặt
khác, phát huy vai trò tích cực, chủ động, nhạy bén, sáng tạo của các DNNN
trong sản xuất, kinh doanh.
Trước
hết, phải nhận diện đúng thành phần KTNN, từ đó kiên trì quan
điểm “KTNN giữ vai trò chủ đạo”. Có thể hiểu KTNN là
tập hợp sức mạnh kinh tế mà nó thể hiện trên các ngành, lĩnh vực trọng yếu từ
các định chế pháp luật, định chế tài chính, hiệu quả sản xuất, kinh doanh của
“lực lượng nòng cốt” - khu vực DNNN, chứ không chỉ đóng khung trong khối tài sản
đăng ký của DNNN, ở quy mô của sở hữu nhà nước, sở hữu toàn dân mà Nhà nước là
đại diện chủ sở hữu. KTNN còn được nhân lên gấp bội để làm vai trò chủ đạo,
định hướng XHCN bởi sức mạnh quản lý, điều hành của hệ thống chính trị, quyền
lực quốc gia của Nhà nước. Hiểu như vậy, rõ ràng KTNN có phạm vi, vai trò rộng
lớn hơn “phạm trù DNNN”, giữ vị trí trọng yếu trong tiến trình phát triển kinh
tế - xã hội, là nền tảng cơ bản để phát triển các ngành, các lĩnh vực, các
thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp; giữ vai trò định hướng XHCN
nền kinh tế nước ta. Vì thế, KTNN phải được xây dựng, phát triển thành “lực
lượng chủ đạo” trong định hướng XHCN nền kinh tế, chứ không nên chỉ hiểu và
diễn giải thành DNNN 100% vốn nhà nước phải giữ vị trí chi phối trong các ngành
kinh tế và lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế và độc quyền trên nhiều lĩnh vực.
Các DNNN là lực lượng nòng cốt của KTNN đi đầu trong hệ thống các doanh nghiệp
Việt Nam
và cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác. DNNN phải tiên phong,
mở đường ở những ngành, những lĩnh vực mà các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế khác không muốn làm hoặc làm không được khi đã được tạo điều kiện, hỗ
trợ từ phía Nhà nước, những ngành đòi hỏi vốn lớn, công nghệ cao, tạo nền tảng
cơ bản cho những ngành sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại, có giá trị
gia tăng cao.
Thứ hai, sắp xếp, đổi mới và
nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN. Theo đó, nước ta cần tiếp tục giảm số lượng
DNNN, song không có nghĩa là giảm tính chất XHCN, giảm vai trò định hướng XHCN
của KTNN; mà sắp xếp, điều chỉnh để DNNN có cơ cấu hợp lý, đi đầu trong đổi
mới, ứng dụng khoa học - công nghệ, giữ vững định hướng XHCN của nền kinh tế,
tập trung vào những khâu, công đoạn then chốt của 4 lĩnh vực chính, bao gồm:
công nghiệp quốc phòng, công nghiệp độc quyền tự nhiên, lĩnh vực cung cấp hàng
hóa thiết yếu và một số ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao, có sức lan
tỏa lớn3. Đồng thời, kiên trì nguyên tắc: “Nhà nước chỉ làm những gì
mà tư nhân không muốn làm hoặc không thể làm được, khi đã tạo điều kiện thuận
lợi và hỗ trợ từ phía Nhà nước”. Cùng với đó, cần tiếp tục đẩy mạnh CPH các DNNN,
kể cả các TĐKT và TCTNN; tập trung tháo gỡ tình trạng CPH mang tính “khép kín”,
nội bộ, nhiều doanh nghiệp được CPH song xác định giá trị doanh nghiệp rất
thấp; khắc phục những vướng mắc, tiêu cực khi tính giá trị thương hiệu, quyền
sử dụng đất, tài sản doanh nghiệp… và “lợi ích nhóm” trong quá trình CPH .
Thứ ba, đổi mới cơ chế thực
hiện quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước và cơ chế giám sát hoạt động các
DNNN.
Cần tách bạch chức năng chủ sở hữu DNNN ra khỏi chức năng quản lý nhà nước,
không để tình trạng “ba trong một” - các bộ vừa là chủ sở hữu, vừa ban hành
chính sách, vừa kiểm soát thị trường, dẫn đến xung đột lợi ích khi điều hành
hoạt động của DNNN, nhất là TĐKT và TCTNN. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ
chế thực hiện mối quan hệ giữa chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu trong các TĐKT
và TCTNN; đồng thời, hoàn thiện cơ chế người đại diện phần vốn nhà nước tại
doanh nghiệp trên cơ sở làm rõ địa vị pháp lý, mối quan hệ với cơ quan quản lý
vốn và cơ quan quản lý nhà nước; hoàn thiện cơ chế giám sát hoạt động các DNNN
nhằm hướng tới thiết lập trật tự kỷ cương trong hoạt động kinh tế. Đây là điều
kiện tối cần thiết để bảo toàn và phát triển vốn thuộc sở hữu nhà nước; bảo đảm
vốn của Nhà nước hướng vào các mục tiêu ưu tiên phục vụ phát triển kinh tế - xã
hội, chứ không phục vụ cho lợi ích của một nhóm người. Đồng thời, đảm bảo cho
Nhà nước kiểm soát được hoạt động của các DNNN thông qua tính minh bạch của hệ
thống pháp luật, công khai các thông tin về hoạt động của DNNN. Nhằm quản lý
chặt chẽ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DNNN, Nhà nước cần chỉ đạo thực
hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát; gắn kiểm tra, giám sát bên ngoài doanh
nghiệp (các cơ quan làm nhiệm vụ giám sát, kiểm tra doanh nghiệp) với kiểm tra,
giám sát nội bộ doanh nghiệp một cách thực tế và hiệu lực cao.
Thứ tư, cải cách quản trị DNNN, hướng vào hoàn thiện
khuôn khổ pháp lý về tổ chức, mô hình hoạt động của TĐKT, đảm bảo kinh doanh
lành mạnh theo cơ chế thị trường, như: giảm tối đa tính độc quyền của các TĐKT,
TCTNN. Các DNNN phải được tổ chức lại theo mô hình công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn, phù hợp với Luật Doanh nghiệp năm 2005; hoàn thiện mô hình
công ty mẹ - công ty con của các TĐKT và TCTNN; áp dụng chế độ quản trị tiên
tiến phù hợp với KTTT và thực hiện chế độ kiểm tra, kiểm toán, giám sát chặt
chẽ, công khai, minh bạch về đầu tư, tài chính và các hoạt động của DNNN. Về
lâu dài, cần nghiên cứu phương án hình thành tổ chức chuyên trách thực hiện
quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu vốn nhà nước tại công ty mẹ của TĐKT nhà nước,
các TCTNN và DNNN quy mô lớn, quan trọng; nâng cao tính độc lập, chuyên nghiệp
và năng lực chuyên môn của các ban kiểm tra tại các DNNN để việc kiểm tra, giám
sát nội bộ thực sự hiệu quả.
Thứ năm, nâng cao vai trò, hiệu
lực quản lý nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển KTTT định hướng XHCN. KTNN và DNNN chỉ có
thể phát huy được vai trò của mình khi có hệ thống quản lý nhà nước phù hợp và
có sức mạnh thật sự của chính KTNN. Xét đến cùng, sự yếu kém của các TĐKT,
TCTNN có nguyên nhân từ phía Nhà nước nhiều hơn từ phía DNNN. Do đó, nâng cao
vai trò, hiệu quả quản lý nhà nước đang là một trong các vấn đề lớn, vừa có ý
nghĩa cấp bách trước mắt, vừa có ý nghĩa lâu dài. Trong nền KTTT định hướng
XHCN, với tư cách là người điều hành, quản lý kinh tế vĩ mô, Nhà nước định
hướng, điều tiết đầu tư của các chủ thể kinh tế vào phát triển kinh tế - xã
hội; phân bổ, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình. Điều này
đòi hỏi Nhà nước không thể dành những “ưu ái” cho DNNN mà phải đưa các DNNN vào
hoạt động trong môi trường liên kết, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế khác. Với tư cách là chủ sở hữu các DNNN, Nhà nước
phải nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý của mình đối với doanh nghiệp. Cơ quan
quản lý nhà nước cần tập trung thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát, kiểm
soát các DNNN. Điều quan trọng nhất là yêu cầu các doanh nghiệp phải công khai,
minh bạch thông tin về hoạt động kinh tế (trừ các thông tin về bí mật quốc gia,
bí quyết công nghệ, kinh doanh của doanh nghiệp). Trước mắt, điều chỉnh sự phân
công, phân cấp giữa Chính phủ và các bộ, ngành, chính quyền địa phương trong
việc thực hiện chức năng của cơ quan đại diện chủ sở hữu DNNN cấp trên hội đồng
quản trị (hội đồng thành viên) mà không trực tiếp chỉ đạo hoạt động sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp. Cùng với đó, phải tăng cường công tác xây dựng
Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng, phẩm chất chính trị, đạo
đức, năng lực quản lý của đội ngũ lãnh đạo, nhất là lãnh đạo chủ chốt của doanh
nghiệp. Đổi mới quy trình, xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân
liên quan đến việc xem xét, quyết định nhân sự lãnh đạo chủ chốt của doanh
nghiệp, đặc biệt là nhân sự chủ tịch hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) và
giám đốc4. Lựa chọn, bố trí đúng đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành
doanh nghiệp với nguyên tắc “giao tài sản cho người nào có khả năng quản lý có
hiệu quả tài sản đó”. Bố trí cán bộ quản lý phù hợp với lĩnh vực, ngành nghề và
gắn trách nhiệm, quyền lợi với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nêu cao vai
trò trách nhiệm của hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) và ban thường vụ
đảng ủy; thực hiện việc chủ tịch hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) kiêm
bí thư đảng ủy doanh nghiệp4.
Thực hiện
đồng bộ, có hiệu quả các nội dung, giải pháp trên, sức mạnh của KTNN sẽ được
phát huy, bảo đảm giữ vững vai trò chủ đạo trong định hướng XHCN nền KTTT ở
Việt Nam. Đó cũng là minh chứng bác bỏ mọi luận điệu tuyên truyền của các thế
lực thù địch hòng phủ nhận vai trò chủ đạo của KTNN trong nền KTTT định hướng
XHCN của chúng ta.
GS,
TS. CHU VĂN CẤP
Học
viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
_________
1 - Trong
những năm 1990, có hơn 12.000 doanh nghiệp. Đến nay, theo báo cáo của Ban Đổi
mới và phát triển doanh nghiệp, cả nước có 1.309 doanh nghiệp 100% vốn nhà
nước, trong đó: quốc phòng, an ninh, và công ích là 452 doanh nghiệp, chiếm
34,5%; công ty nông, lâm, nghiệp là 249 doanh nghiệp, chiếm 19,0%; kinh doanh
trong các lĩnh vực là 608 doanh nghiệp, bằng 46,5% tổng số doanh nghiệp. Các
DNNN tập trung chủ yếu vào 20 TĐKT và các TCTNN 91.
2 - Theo
số liệu của Tổng cục Thống kê: năm 2011, DNNN chiếm 1,1% trong tổng số doanh
nghiệp Việt Nam, chiếm 37,1% tổng giá trị tài sản, 44,8% tổng giá trị tài sản
cố định và đầu tư tài chính, 27% tổng doanh thu, 37,8% tổng lợi nhuận trước
thuế, đóng góp 37,4% nộp thuế và nộp ngân sách, tạo việc làm cho 19,5% lực
lượng lao động xã hội.
3 - Kết
luận của Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XI.
4, 5 -
Kết luận của Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XI.